Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn địa lí ở Tiểu học

Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn địa lí ở Tiểu học.

PHẦN MỞ ĐẦU

 1. Lý do chọn đề tài

Môn học Địa lí ở tiểu học là một trong những môn học vó vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục. nó cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về thiên nhiên và cuộc sống con người của các vùng miền trong đất nước Việt Nam. Việc dạy học môn địa lý đã có chương trình riêng biệt và được in chung với môn học lịch sử gọi là sách Lịch sử và Địa lý.

Nhưng một thực tế hiện nay việc học tập của học sinh ở tiểu học các em không tích cực học tập môn học này một cách say sưa và tự giác. Các em thường chú trọng vào hai môn học chính là Toán và Tiếng Việt do đó việc nắm bắt kiến thức về Địa lý còn ở mức trung bình. Bên cạnh đó việc giúp đỡ của bố mẹ các em ở nhà cũng không được quan tâm nhiều nên chất lượng học tập môn học này ngày càng có dấu hiệu yếu hơn cho dù giáo viên đã tìm nhiều cách giúp đỡ để cho các em học tập tốt.

Với vai trò là một cán bộ quản lý phụ trách công tác chuyên môn, bản than tôi luôn chu trọng vào chất lượng giáo dục chung của nhà trường, tôi thường khuyến khích giáo viên cần quan tâm đến chất lượng học tập của mỗi học sinh, giúp các em học đều các môn, không phân biệt môn nào là chính, môn nào là phụ. Cuối môi tháng, mỗi kì tôi thường tổ chức các lớp chuyên đề nhằm giúp giáo viên rút kinh nghiệm trong công tác giảng dạy cũng nư học hỏi lẫn nhau nhằm tìm ra những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh tại địa phương.

Đây cũng là một trong những nhiệm vụ hàng đầu mà tôi đề ra đầu mỗi năm học. Riêng năm học 2015-2016 này tôi đã lạp kế hoạch cụ thể, chi tiết việc nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường đối với giáo viên các lớp, nhất lừ môn học Địa lý. Đây cũng là nội dung đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn địa lí ở Tiểu học” mong rằng sáng kiến nhỏ này sẽ góp phần vào sự thành công của nền giáo dục huyện nhà.

  1. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.

Mục tiêu: giúp giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học nhằm nâng cao kiến thức địa lí thông qua bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, thơ ca…một cách tốt nhất. Từ đó tạo hứng thú cho học sinh trong học tập môn học này.

Nhiệm vụ: Để thực hiện thành công đề tài tôi thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây:

– Nghiên cứu lý luận về nội dung đề tài, tâm sinh lí lứa tuổi học sinh

– Khảo sát tình hình và chất lượng học tập của học sinh học tập môn địa lí hiện nay ở tiểu học nói chung và trường tiểu học …………….. nói riêng.

– Từ thực trạng đó đề ra biện pháp có hiệu quả giúp học sinh học tốt môn Địa lí. Từ kết quả thực nghiệm để triển khai và đánh giá kết quả rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích. Từ đó triển khai mở chuyên đề bồi dưỡng  phương pháp dạy học cho giáo viên của trường tiểu học ………………

  1. Đối tượng nghiên cứu:

Học sinh khối 4,5 trường Tiểu học ……………… Nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học địa lí ở tiểu học hiện nay.

  1. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Do điều kiện hạn chế về thời gian và không gian nen phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ nghiên cứu trong trường tiểu học.

  1. Phương pháp nghiên cứu:
  2. Phương pháp nghiên cứu tài liệu.

Tôi tiến hành nghiên cứu nội dung về phương pháp dạy học môn Địa lí và một số tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

  1. Phương pháp khảo sát:

Dựa trên những tư liệu về các chuyên đề đã được nghiên cứu, tôi tiến hành khảo sát đối tượng học sinh, từ đó có cơ sở xây dựng kế hoạch khảo nghiệm sao cho đạt kết quả tốt hơn

  1. Phương pháp khảo nghiệm vấn đề:

Sau khi đã có kết quả nghiên cứu về việc học tập môn Địa lý của học sinh. Qua đó tôi tiến hành tổ chức khảo nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi vấn đề nghiên cứu.

  1. Phương pháp tổng kết.

Sau khi triển khai thực hiện chuyên đề theo kế hoạch đề ra, tôi đã bám sát kết quả thu được, trên cơ sở đó tôi điều chỉnh cách làm để phù hợp với nội dung nghiên cứu. sau đó tổng kết quá trình thực hiện, từ đó có cơ sở đề xuất những biện pháp thực hiện đại trà đến nhiều học sinh hơn nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Địa lí.

Ngoài ra tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp nghiên cứu khác để bổ trợ cho quá trình nghiên cứu của sáng kiến.

PHẦN NỘI DUNG

  1. Cơ sở lí luận

Môn địa lí ở tiểu học góp phần bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan khoa học và những quan điểm nhận thức đúng đắn. Địa lý là một môn học có tính tổng hợp. Trong quá trình học tập địa lý học sinh luôn phải tìm hiểu mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển và biến đổi không ngừng của chúng. Những kiến thức đó góp phần hình thành cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng. Học Địa lý giúp học sinh nhận thức đúng vai trò của tự nhiên, của con người trong các hoạt động kinh tế – xã hội trên lãnh thổ từ đó góp phần bồi dưỡng cho học sinh quan điểm duy vật lịch sử, tư duy kinh tế, tư duy sinh thái… Giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, thái độ nhiệt tình lao động, ý thức làm chủ và lòng mong muốn góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Giúp học sinh nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên trong việc tỏ thái độ với các hành động tiêu cực…Qua việc học Địa lý Thế giới giúp học sinh đồng tình với cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân lao động trên thế giới để giành độc lập, dân chủ, tiến bộ và tự do…

Tất cả các nhận thức, tình cảm nói trên là những yếu tố cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.

Ở nước ta việc dạy học nói chung và bồi dưỡng nhân tài nói riêng được chú trọng ngay từ khi dựng nước vì như Thân Nhân Trung đã nói “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thế nước lên nguyên khí suy thế nước xuống.”

Ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước việc dạy học nói chung và bồi dưỡng nhân tài nói riêng càng được chú trọng nhằm hình thành những con người có ý thức và đạo đức XHCN, có trình độ, có văn hóa, có hiểu biết kỹ thuật, có năng lực lao động cần thiết, có óc thẩm mĩ và có kiến thức tốt để kế tục sự nghiệp cách mạng, xây dựng vào bảo vệ tổ quốc.

Với mục tiêu giáo dục: Nâng cao dân trí- Đào tạo nhân tài – Bồi dưỡng nhân tài. Môn địa lí  khả năng bồi dưỡng cho học sinh một khối tri thức phong phú về tự nhiên -kinh tế -xã hội và những kỹ năng kỹ xảo hết sức cần thiết trong cuộc sống. Và còn có khả năng to lớn trong việc bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan khoa học và những nhận thức dúng đắn, khả năng hình thành cho học sinh nhân cách con người mới trong xã hội hiện đại  và năng động này.

Ở bậc tiểu học từ trước tới nay với quan niệm cho rằng bộ môn địa lí là môn học phụ. Vì thế dạy và học địa lí ít được coi trọng, nên chất lượng giảng dạy thấp, học sinh thiếu  hứng thú khi học bài, khi học lại chủ yếu là học vẹt để đối phó với giáo viên khi kiểm tra. Vì vậy Đa số học sinh nắm kiến thức sơ đẳng về địa lí còn nhiều hạn chế, số lượng học sinh biết tổng hợp vốn kiến thức về Tự nhiên – xã hội, vị trí địa lí của các vùng miền trên đất nước ta còn hạn chế, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành môn học vẫn còn cao.

Là cán bộ quản lý được trưởng thành từ  một giáo viên tâm huyết với nghề; tôi thấy rất băn khoăn trước chất lượng môn địa lí trong nhà trường  trong những năm gần đây, tôi thấy mình phải có trách nhiệm thay đổi quan niệm đó và không có gì tốt hơn là chứng minh bằng thực tiễn rằng: môn Địa lí là môn học chính trong chương trình phổ thông và học Địa lí có vai trò rất quan trọng trong đời sống hằng ngày và trong sản xuất.

  1. Thực trạng

Ngay từ khi thành lập đến nay trường luôn có số lượng học sinh khá đông hai điểm trường,với tổng số lớp là 19 lớp, gồm 490 học sinh trong đó học sinh dân tộc chiếm tỷ lệ 50%.  Đội ngũ cán bộ giáo viên và nhân viên gồm 33 người. 100% các đồng chí giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, đội ngũ giáo viên phần lớn còn trẻ tuổi nên rất nhiệt tình trong mọi phong trào, ham học hỏi, yêu nghề mến trẻ, yên tâm công tác dạy học tại địa phương. Trong nhưng năm gần đây chất lượng dạy và học được năng lên rõ rệt. Đạt được điều  đó trường đã gặp những thuận lơi –khó khăn sau:

  1. Thuận lợi-khó khăn

Thuận lợi: Trường luôn nhận được sự chỉ đạo chuyên môn kịp thời của Phòng Giáo dục huyện. Luôn được sự quan tâm của cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương cũng như quý bậc phụ huynh.

Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước cũng như ngành giáo dục đã đầu tư nhiều trang thiết bị dạy học, bên cạnh đó trường đã thường xuyên tổ chức tập huấn đổi mới phương pháp trong dạy học nhằm đưa chất lượng giáo dục ngày một nâng cao trong đó có môn địa lí.

Sự nhận thức của các bậc phụ huynh nông thôn về việc học của con em mình ngày một khả quan. Đội ngũ giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn chiếm hơn 100%

Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi thì còn nhiều khó khăn trong dạy và học địa lí hiện nay ở trường chúng tôi đó là:

Là một trường tiểu học duy nhất chỉ có hai điểm trường đóng trên địa bàn xã Cư kLông thuộc vùng đặc biệt khó khăn của huyện Krông Năng, địa bàn rộng gồm 8 thôn, gia đình học sinh sống xa trường, một nửa số học sinh là người dân tộc thiểu số,bố mẹ ít quan tâm đến việc học tập của con em, bên cạnh đó điều kiện kinh tế cũng như đường sá đi lại khó khăn nên phần lớn đã ảnh hưởng đến chất lượng dạy học nói chung và môn địa lý nói riêng.

Ý thức học tập của học sinh chưa cao. Luôn xem môn địa lí là môn phụ kể cả cha mẹ các em. Đó là nếp nghĩ từ bao đời nay của người dân Việt Nam. Bên cạnh đó học sinh tiểu học nhớ nhanh nhưng ghi nhớ đó lại không bền vững, trình  độ nhận thức của các em còn hạn chế chưa đồng đều.

Song song với những thuận lợi –khó khăn trên, thực trạng môn địa lý ở trường có được những thành công và hạn chế sau:

  1. Thành công, hạn chế

Thành công: Tuy có nhiều khó khăn nhất định nhưng trong những năm qua dạy và học môn địa lí ở trường tiểu …………….. đã có những thành công đáng ghi nhận đó là:

– Việc thực hiện đánh giá học sinh theo thông tư 30/2014/TT-BGD ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 Về phía học sinh, được trực tiếp tham gia đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn, các em phát triển khả năng giao tiếp và học tập đạt kết quả tốt hơn. Phụ huynh cùng tham gia đánh giá cũng giúp họ nắm rõ hơn về tình hình học tập, rèn luyện của con. Việc đánh giá học sinh bằng lời, không dùng điểm số tránh được việc so sánh giữa học sinh này với học sinh khác, tạo tâm lý thoải mái cho các em trong học tập và các hoạt động giáo dục. Giáo viên kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ hay hạn chế của học sinh để động viên, khích lệ, hướng dẫn, hỗ trợ trong quá trình học tập, rèn luyện. Cách đánh giá này buộc giáo viên có trách nhiệm hơn với công việc, luôn tích cực đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, điều chỉnh hoạt động dạy học và giáo dục phù hợp với từng đối tượng học sinh để đạt hiệu quả cao.

– Số học sinh có điểm môn địa lí khá giỏi trong những năm qua tăng lên đáng kể. Số em không đạt yêu cầu chiếm tỉ lệ nhỏ. Đa số các em có kiến  thức cơ bản về môn địa lí trong chương trình tiểu học.

– Về xã hội đã quan tâm hiều hơn về môn học này, biểu hiện qua một số chương trình tìm hiểu địa lí Việt Nam trên ti vi. 

– Nhà trường đã có nhiều chuyên đề, hội thảo về môn học này. Cũng như tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu về địa lí như Tìm hiểu về biển đảo Việt Nam, tìm hiểu về các dân tộc Việt Nam, Thiết kê thời trang biển…

Hạn chế: Tuy có nhiều thành công nhưng vẫn còn tồn tại những hạn  chế chưa được khắc phục đó là:

– Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, dạy trên lớp là chủ yếu. Các hình thức dạy học cá nhân, ngoài trời chưa được thực hiện, hoặc thực hiện chưa có hiệu quả.

– Cơ sở vật chất phục vụ dạy học, các phương tiện dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ.

– Việc tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh và các hình thức khen thưởng, động viên học sinh chưa được giáo viên quan tâm một cách thích đáng.

– Học sinh có tính ỉ lại, không chịu tìm tòi, không chủ động nắm bắt kiến thức, không tập trung vào bài học, khả năng tổng hợp kiến thức kém, tiếp thu bài chậm.

Nhìn chung giờ học Địa lý chưa mang lại nhiều hứng thú cho học sinh. Có thể nói cách dạy và học Địa lý như trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối với chất lượng dạy học, đồng thời hạn chế việc phát triển trí tuệ của học sinh khi học môn Địa lý. Vì vậy tiếp tục đổi mới một cách mạnh mẽ, có hiệu quả các phương pháp dạy học Địa lý là một trong những vấn đề quan trọng nhất cần phải được tiếp tục quan tâm và tìm cách giải quyết.

  1. Mặt mạnh, mặt yếu.

Mặt mạnh: Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đầu tư chất lượng chuyên môn nói chung trong đó có môn địa lí nói riêng. Khuyến khích động viên giáo viên tham gia hội giảng với nhiều hình thức, với nhiều môn học khác nhau. Luôn động viên khen thưởng kịp thời với những giáo viên giỏi, giáo viên  có nhiều sáng kiến trong dạy học.

Mặt yếu:

–  Một số giáo viên vẫn chưa thực sự thấm nhuần tích cấp thiết, tầm quan trọng, bản chất phương hướng và cách thức đổi mới phương pháp dạy học Địa lý, hiểu biết về cơ sở lý luận, thực tiễn của đổi mới phương pháp dạy học còn chưa sâu sắc.

– Đa số giáo viên vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ với hỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích cực và phát triển tư duy học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động.

  1. Các nguyên nhân yếu tố tác động.

Có nhiều nguyên nhân và yếu tố dẫn đến những thực trạng trên, tuy nhiên trong quá trình thực hiện  đề tài đi sâu vào nghiên cứu mở rộng nhiều vấn đề tôi nhận thấy: 

–  Giáo viên mới chỉ quan tâm đến kiến thức nội dung chính của bài và những kiến thức nào cần học thuộc.

– Bài giảng còn chưa thật hấp dẫn, chưa thu hút học sinh.

– Các phương pháp giảng dạy còn hạn chế, chưa thật sự phát huy được vai trò của đồ dùng dạy học (mà ở đây là bản đồ; tranh ảnh…)

– Bài giảng cứng nhắc, nặng về nội sung văn bản, thiếu tính sáng tạo. Giáo viên chưa cập nhật thông tin địa lí thường xuyên và chưa có kiến thức chuyên sâu về môn học này.

-Thời lượng 1 tiết trong 1 tuần với môn học này quả là ít, nếu không muốn nói là “cưỡi ngựa xem hoa”.

– Suy nghĩ của phụ huynh vẫn chưa mấy thay đổi khi xem địa lí là môn phụ dẫn đến hệ quả là không hướng dẫn con em mình đầu tư  thời gian học và nghiên cứu về môn học này.

  1. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những thực trạng trên nhưng theo tôi nguyên nhân cơ bản sau gây nên việc học sinh chưa mặn mà với môn học này. Đó là:

Thứ nhất: Hiện nay, các trường tiểu học đã có bản đồ, lược đồ, tranh, ảnh, quả địa cầu,… nhưng các thiết bị và phương tiện dạy học hiện đại thì đa số là chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay. Cơ sở vật chất ở các trường tiểu học còn thiếu, chưa đủ, các tài liệu nghiên cứu chưa cập nhật kiến thức mới thường xuyên. Trong mỗi lớp học ở tiểu học tính trung bình chỉ có một đến hai bản đồ treo tường, một vài tranh ảnh treo tường và vài lớp chung nhau 1 một quả địa cầu. Các thiết bị hiện đại kèm theo chúng như ti vi, đầu video, đèn chiếu, máy vi tính… chưa được trang bị.

Thứ hai: Giáo viên hiện nay rất ngại sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ học. Tình trạng dạy “chay” là phổ biến, các đồ dùng nếu được sử dụng thì cũng chỉ mang tính chất hình thức, đối phó là chính và hầu như chúng được sử dụng như là những phương tiện minh hoạ, hỗ trợ cho lời giảng của giáo viên trên lớp. Giáo viên chỉ quan tâm đến tính chất minh hoạ của thiết bị mà chưa chú ý hoặc chú ý chưa đầy đủ đến việc khai thác tri thức bên trong của chúng. Bên cạnh đó, việc sử dụng đồ dùng không phù hợp với tiến trình bài học, không đúng lúc, đúng chỗ cũng là một trường hợp khá phổ biến. Một lí do khác rất quan trọng là, những giáo viên có ý thức sử dụng đồ dùng trong giờ học nhưng lại không biết cách tổ chức cho học sinh làm việc với các đồ dùng như thế nào cho hiệu quả. Với cách tổ chức giờ học và cách sử dụng các đồ dùng dạy học như hiện nay, hoạt động của học sinh trong giờ học trên lớp chủ yếu là nghe giảng, quan sát, ghi nhớ và tái hiện thông tin đã được giáo viên truyền đạt. Như vậy học sinh chỉ đóng vai trò thụ động trong quá trình nhận thức chứ chưa phải là chủ thể trong quá trình nhận thức. Học sinh không khai thác được nội dung kiến thức tiềm ẩn trong các đồ dùng dạy học, không phát huy được tính tích cực nhận thức trong quá trình học tập, không được phát huy tư duy, mối quan hệ giữa người học và các đồ dùng dạy học chỉ mang tính chất hình thức bên ngoài. Điều đó đồng nghĩa với việc học sinh chưa tiếp cận được với mục tiêu cần đạt được của bài học, không nắm được khái niệm một cách đầy đủ, chính xác. Do đó, không nâng cao được chất lượng dạy học, đặc biệt là kết quả nhận thức của học sinh.

Thứ ba: Một vấn đề nữa là công tác quản lí, chỉ đạo lãnh đạo của nhà trường còn thiếu chặt chẽ, không kiểm tra thường xuyên việc sử dụng các đồ dùng dạy học của giáo viên. Bên cạnh đó giáo viên ý thức để học, trau dồi tay nghề cho mình còn hạn chế. Việc thăm lớp dự giờ không thường xuyên nếu không muốn nói là đối phó.

Thứ tư: Phụ huynh và học sinh chưa đầu tư thời gian cho môn học này. Bên cạnh đó hoạt động ngoài giờ lên lớp tìm hiểu về địa lí chưa phong phú, chưa thu hút được các em tham gia.

Thực trạng trên đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp thay đổi phương pháp dạy, tích cực hơn nữa trong việc dạy và học môn địa lí nhằm tạo hứng thú, ý thức học tập cho học sinh, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy.

II.3. Biện  pháp thực  hiện.

  1. Mục tiêu của biện pháp: Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu:

– Giúp học sinh có kĩ năng khai thác tri thức địa lí từ bản đồ, lược đồ, từ những tranh ảnh về địa lý, khai thác tri thức địa lý qua sách giáo khoa.

– Giúp giáo viên biết cách sử dụng tục ngữ, ca dao vào bài giảng để giúp học sinh ghi nhớ kiến thức nhanh hơn, bài giảng của giáo viên sinh động hơn. Từ đó gây hứng thú cho các em trong khi học địa lí.

– Từ những kiến thức địa lí bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương, đất nước, tự hào về con người và đất nước Việt Nam.

Bày tỏ, chia sẻ những kinh nghiệm dạy học để góp phần nâng cao chất lượng dạy học hiện nay.

  1. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp.

Sau đây tôi xin phép trình bày các biện pháp thực hiện cũng như cách thức thực hiện các biện pháp như sau:

 Biện pháp 1:  Hướng dẫn giáo viên sử dụng bản đồ, lược đồ.

– Bản đồ là một phưng tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lý quan trọng. Qua bản đồ, học sinh có thể nhìn một cách bao quát các khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt Trái Đất mà học sinh chưa bao giờ có điều kiện đi đến tận nơi để  quan sát.

– Về mặt nội dung, bản đồ có khả năng phản ảnh sự phân bố và những mối quan hệ của các đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất một cách cụ thể, mà không có một phương tiện nào khác có thể làm được. Những kí hiệu, màu sắc, cách biểu hiện trên bản đồ là những nội dung địa lý đã được mã hóa, trở thành một ngôn ngữ đặc biệt, ngôn ngữ bản đồ.

– Về mặt phương pháp, bản đồ được coi là phương tiện trực quan, giúp học sinh khai khác, củng cố tri thức và phát triển tư duy trong quá trình dạy học địa lý.

– Để khai thác được những tri thức trên bản đồ, trước hết học sinh phải hiểu bản đồ, đọc được bản đồ, nghĩa là phải nắm được những kiến thức lý thuyết về bản đồ, trên cơ sở đố có được những kỹ năng làm việc với bản đồ.

– Đối với giáo viên, hướng dẫn học sinh khai thác tri thức trên bản đồ, chủ yếu là hướng dẫn học sinh đọc được bản đồ ở các mức độ trên, quan trọng nhất là hai mức độ sau.

– Giáo viên hướng dẫn học sinh cách chỉ bản đồ, một địa danh, một khu vực, một con sông,…giáo viên hướng dẫn chậm để các em theo kịp.

– Muốn hiểu và đọc được bản đồ học sinh cần phải xem bảng chú giải để biết được các kí hiệu thể hiện trên bản đồ.

Các em cần phải xác định rõ các khu vực địa hình, cấu trúc của từng khu vực dựa trên các kí hiệu bản đồ, thang màu sắc để thấy rõ đặc điểm của từng khu vực địa hình, phân biệt sự khác biệt giữa các khu vực thông qua câu hỏi hướng dẫn của giáo viên.

Do đó tôi hướng dẫn giáo viên sử dụngn bản đồ trong dạy học địa lý bằng hai cách:

Cách 1: in Màu phóng to trên giấy A0, đây là phương pháp sử dụng thông thường nên không tạo được nhiều hứng thú trong học tập cho học sinh.

Cách 2 (tôi khuyên khích giáo viên tăng cường sử dụng):

Dùng bản đồ bằng hình ảnh động trình chiếu qua máy tính. Đây là một hình thức dạy học phong phú và hấp dẫn sẽ thu hút được học sinh học tập.

Với cách sử dụng này, giáo viên tuy mất chút ít thời gian mà bản đồ nhưng lại mang đến tính hiệu quả cao hơn.

Ví dụ: Khi dạy bài Địa hình và khoáng sản (địa lí lớp 5). Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát lược đồ Địa hình Việt Nam trang 69 và thực hiện các yêu cầu sau:

– Chỉ vùng đồi núi và đồng bằng so sánh diện tích của vùng đồi núi và đồng bằng nước ta. (lúc giáo viên bấm máy, những vùng sáng ở hai vùng trên sẽ nấp nháy, vừa vui mắt vừa giúp học sinh dễ nhận biết

– Kế tên các dãy núi và cho biết dãy núi nào có hướng Tây-Bắc; Đông- Nam. Những dãy núi nào có hình cánh cung. Chỉ trên lược đồ đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và đồng bằng duyên hải miền Trung. (tương tự như trên, giáo viên có thể tạo nhiều hiệu ứng khác nhau sao cho học sinh thích thú và dễ hiểu bài)

Như vậy để thực hiện được yêu cầu trên học sinh phải tư duy vừa quan sát lược đồ đồng thời phân tích tổng hợp kiến thức thể hiện qua lược đồ để so sánh và hoàn thiện yêu cầu. nhưng nhờ cách sử dụng bản đồ bằng máy chiếu nên học sinh sẽ tập trung hơn so với cách xem bản đồ trong sách giao khoa hoặc trong bản đồ giấy giáo viên treo bảng.

Tóm lại: Khi các em được quan sát trên bản đồ trong máy chiếu và kết hợp lược đồ sách giáo khoa thông qua các hiện tượng địa lý được thể hiện các em sẽ biết được kiến thức địa lí tốt hơn. Như vậy dựa vào các kiến thức địa lý thông qua bản đồ học sinh có thể phân tích, giải thích được các mối quan hệ giữa các đối tượng địa lý rồi rút ra kết luận.

 Một loại bản đồ khác được sử dụng trong học tập địa lý cũng góp phần rèn luyện kĩ năng và củng cố kiến thức cho học sinh, nhấn mạnh thêm những hiện tượng, sự vật địa lý được Giáo viên sử dụng thêm đó là bản đồ trống. Loại này được sử dụng trong những tiết ôn tập, thực hành…

Để thực hiện hiệu quả việc sử dụng bản đồ và lược đồ giáo viên cần lưu ý:

+ Trong quá trình học tập môn Địa lý việc sử dụng bản đồ để rèn các kĩ năng cho học sinh thì giáo viên phải cần có kế hoạch từng bước, liên tục bồi dưỡng cho học sinh những tri thức về bản đồ, học tập kết hợp bản đồ dần dần hình thành thói quen nhớ lâu hiểu sâu, khi không trực tiếp sử dụng bản đồ thì các em vẫn hình dung được. Và giáo viên cũng cần chú ý kết hợp đối tượng trên bản đồ với thực tế địa phương (nếu có).

+  Sử dụng bản đồ và tranh ảnh thường xuyên trong mỗi tiết học. Ngay từ những bài đầu tiên chúng ta rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng bản đồ theo từng bước, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

+ Sử dụng bản đồ tranh ảnh trong các kiểu bài lên lớp như bài mới, bài ôn tập, thực hành.

+  Phải khéo léo khi sử dụng, chọn những đồ dùng thích hợp nhất, đánh giá đồ dùng trước khi sử dụng để khỏi lãng phí thời gian và làm loãng trọng tâm giờ học, không nên sử dụng quá nhiều đồ dùng trong một tiết dạy.

Biện pháp 2. Hướng dẫn giáo viên sử dụng phim tư liệu tạo sự phong phú của tiết học.

Phim tư liệu là một phần minh chứng sống động và thực tế nhất trong quá trình dạy học, không chỉ là nguồn kiến thức cung cấp cho học sinh mà còn phát triển tư duy cho học sinh, có sức thu hút học sinh bởi vì Địa lý tiểu học đa số các tranh ảnh chỉ được nêu ra trong lý thuyết mà thực tế các em chưa được thấy thực tế. Trong giảng dạy địa lý, việc quan sát các sự vật, hiện tượng bằng thực tế qua phim tư liệu về địa lý xảy ra trong các không gian lãnh thổ khác nhau không phải lúc nào cũng làm được, vì vậy trong việc hình thành các biểu tượng và khái niệm cụ thể cũng rất hạn chế.

Để giúp học sinh khắc phục nhược điểm này, trong quá trình dạy học địa lý, giáo viên thường bắt buộc phải hình thành cho học sinh những biểu tượng và khái niệm tưởng tượng dựa vào một số phương tiện dạy học như: tranh ảnh, mẫu vật, mô hình …

Cần xác định và đánh giá được những đặc điểm và thuộc tính của đối tượng mà chúng biểu hiện. Trong các đặc điểm và thuộc tính đó, học sinh có thể khai thác được những gì cần thiết cho việc hình thành biểu tượng và khái niệm.

Xác định những đặc điểm và thuộc tính cần phải bổ sung bằng các nguồn tri thức khác như: bản đồ, tài liệu giáo khoa, tài liệu tham khảo…

Dự kiến cách hướng dẫn học sinh khai thác những tri thức cần thiết phục vụ cho mục đích dạy học.

Ví dụ:  Khi tìm hiểu về Châu Mĩ với nội dung môi trường địa lý, các cảnh quan tự nhiên như rừng rậm nhiệt đới, rừng Amadôn hay một ngọn núi, cảnh quan hoang mạc. Khi quan sát qua phim tư liệu các em sẽ tiếp thu kiến thức nhanh hơn, nhớ lâu hơn, rèn kĩ năng phân tích giải thích mối quan hệ giữa các đối tượng địa lý.

Khi dạy bài Châu Mĩ  (lớp 5) thay vì yêu cầu học sinh quan sát các bức tranh ở trang 122 để khai thác kiến thức, giáo viên sử dụng một đoạn phim tư liệu các em sẽ biết được ở châu Mĩ có núi An-đét ở Pê-ru, đồng bằng trung tâm ở Hoa Kì, thác Ni-a-ga-ra ở Hoa Kì, sông A-ma-dôn ở Bra-xin, hoang mạc A-ta-ca-ma ở Chi-lê, biển Ca-ri-bê.

 Ngoài tranh ảnh trang 122 trong bài. Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những kiến thức mở rộng thông qua các hình ảnh sau để biết được đặc điểm của rừng rậm nhiệt đới mùa mưa và mùa khô.

Biện pháp 3. Hướng dẫn giáo viên sử dụng tục ngữ, ca dao

Trong thực tế địa lí đã có trong những câu tục ngữ, ca dao. Từ xa xưa, trải qua hàng nghìn năm những câu ca dao tục ngữ đã được cha ông ta đúc kết lại từ những kinh nghiệm thực tế: các mối quan hệ giữa tự nhiên với tự nhiên, giữa thiên nhiên – con người, thiên nhiên – sản xuất, các quy luật thời tiết khí hậu, các quy luật tự nhiên…mặc dù trình độ nhận thức chưa được sâu sắc lắm.

Chính ý nghĩa phong phú và rộng rãi của ca dao, tục ngữ mà nó trở thành một phần trong  kho tàng kiến thức của khoa học địa lí. Tận dụng điều này  giáo viên có thể làm mới bài giảng của mình giúp bài học trở nên sáng tạo, mới lạ, phong phú hơn và giảm bớt tính khô khan như nhiều người thường nhận xét.

Để rèn luyện kĩ năng học đi đôi với hành, vốn là một kĩ năng còn yếu đối với học sinh khi học môn địa lí thì việc khai thác ý nghĩa của những câu ca dao, tục ngữ này giúp học sinh cảm thấy dễ dàng liên hệ kiến thức sách vở với các hiện tượng tự nhiên của cuộc sống bên ngoài.

Ví dụ: khi dạy bài Khí hậu (lớp 5) giáo viên giúp học sinh biết được sự khác biệt về khí hậu của từng mùa trong năm qua những câu sau:

“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

Ngày tháng mười chưa cười đã tối”

Khi dạy bài Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Bắc bộ (lớp4)  giáo viên cho học sinh biết thời tiết của từng mùa, từng tháng trong năm là yếu tố quyết định cây trồng thể hiện qua các câu sau: 

Tháng chạp là tháng trồng khoai,
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.
Tháng ba cày vỡ ruộng ra

Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng

Khi dạy bài Khí hậu (lớp 5) giáo viên có thể cho học sinh nhận biết dự đoán đặc điểm khí hậu của từng mùa, từng tháng trong năm thể hiện qua những hình ảnh trong các câu sau.

“Tháng bảy kiến đàn

Đại hàn hồng thủy”

“Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy”

“Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi”

“Cơn đàng Bắc đổ thóc ra phơi”

“Mồng chín, tháng chín có mưa

Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn

Mồng chín, tháng chín không mưa

Thì con bán cả cày bừa đi buôn”

“Đói thì ăn ráy, ăn khoai

Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng”

“Trời nồm tốt mạ, trời giá tốt rau”

“Én bay thấp mưa ngập bờ ao
Én bay cao mưa rào lại tạnh”

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”

“Gió heo may, chuồn chuồn bay thì bão”

“Trăng quầng thì hạn trăng tán thì mưa”

Giáo viên có thể giải thích vào tháng 7, mùa hè của miền Trung  và Bắc Bộ Việt Nam, nhiệt độ không khí ở trên lục địa cao hình thành khu áp thấp hút gió (khối khí ẩm) từ Thái Bình dương vào gây nên những trận mưa lớn cùng với sự xuất hiện của các khí áp thấp gây nên mưa bão ở Bắc bộ và Bắc trung Bộ.

Nên trong dân gian mới có câu:“Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy”

Nhưng nếu thấy:                       “Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi”

Hay:                                            “Cơn đàng Bắc đổ thóc ra phơi”

Do ảnh hường của địa hình: dãy Hoàng Liên Sơn ở Bắc Bộ, dãy Trường Sơn Bắc ở Bắc Trung Bộ nên khi có gió Tây Nam chỉ gây mưa ở Nam bộ và Tây Nguyên. Còn ở vùng đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và ven biển Nam Trung Bộ không có mưa. Tương tự “cơn đàng Bắc…” là ảnh hưởng của khối khí ôn đới xuất phát từ cao áp lục địa tính chất lạnh và khô nên không gây mưa.

Khi dạy bài Thương mại và du lịch (lớp 5)  ta có thể sử dụng câu sau để biết được vẻ đẹp cũng như nhưng danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử của những vùng đất trên lãnh thổ nước ta.

“Ai về Phú Thọ cùng ta

Vui ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”

“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”

“Đồng Đăng có phố Kì Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh”

          Khi dạy bài Đồng bằng duyên hải miền Trung (lớp 4) giáo viên sử dụng các câu sau để biết được vị trí địa lí và đặc điểm của từng địa danh.

“Đường bộ thì sợ Hải Vân

“Đường thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi”

Qua những câu ca dao trên chúng ta thấy rằng không những giúp học sinh lĩnh hội kiến thức hiệu quả mà  nó còn có ý nghĩa giáo dục rất lớn.

 4. Kết quả thu được

Như vậy qua thực hiện áp dụng đề tài vào giảng dạy đã thu được kết quả như sau:

* Về học sinh:

– Có hiểu biết cơ bản và nâng cao về văn hóa, phong tục tập quán, những nét sinh hoạt truyền thống đặc sắc của dân tộc ta.

– Các em hào hứng hăng say khi học địa lí.

– Có thể vận dụng những điều đã học vào thực tế sản xuất.

– Biết được các thế mạnh về điều kiện tự nhiên, về kinh tế, xã hội của nước nhà.

– Có khả năng nhận biết một số hiện tượng địa lí nơi mình sinh sống.

– Có niềm tin vào sự phát triển của địa phương và nâng cao ý thức xây dựng quê hương và bảo vệ tổ quốc.

– Biết sưu tầm hình ảnh, ca dao, tục ngữ, tư liệu vào bài học.

– Có kĩ năng tốt trong việc sử dụng bản đồ, lược đồ và sách giáo khoa để khai thác kiến thức.

* Về giáo viên:

– Đã nhận thức được tầm quan trọng của môn học địa lí.

– Từ đó đã tự học, tự bồi dưỡng kiến thức địa lí cho mình.

– Tự tin hơn khi dạy chuyên đề, thao giảng với môn học này.

– Riêng bản thân tôi đã tham dự giáo viên dạy giỏi cấp Huyện 3 lần với môn tự chọn là Địa lí.

PHẦN KẾT LUẬN

  1. Kết luận:

Đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn địa lí ở Tiểu học” tuy làm một nội dung không phải quá mới, có thể đã có nhiều giáo viên sử dụng trên toàn quốc. Nhưng với trường tiểu học …………….. xã Cư Klông thì hoàn toàn mới vì đây là một đơn vị thuộc vùng khó khăn của huyện Krông Năng nên cơ sở vật chất còn hạn chế, máy chiếu mới chỉ có một cái dùng chung cho toàn trường nên tương đối khó khăn cho giáo viên triển khai làm phương tiện dạy học theo ý kiến trình bày trong đề tài. Tuy nhiên giáo viên không thể dùng thường xuyên thì cũng áp dụng 1 tuần một lần nhằm gây hứng thúc cho các em và giúp các em hăng say trở lại với môn học Địa lí. Việc sử dụng phương tiện dạy học vừa phải dựa trên chức năng, tác dụng của mỗi loại, đồng thời phải sử dụng phù hợp với từng đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh tiểu học. Đây là việc đòi hỏi người giáo viên phải phát huy cao độ vai trò của mình trong giảng dạy, phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của các em trong quá trình học tập. Vì vậy, trong viêc giúp học sinh học tốt môn địa lí là việc làm khó, đòi hỏi sự nỗ lực rất nhiều từ cả hai phía: Thầy và trò.

Từ thực tế áp dụng ba biện pháp dạy học trên vào môn địa lí tôi nhận thấy hiệu quả dạy và học của thầy-trò được nâng lên rõ rệt. Mong rằng sáng kiến nhỏ mà tôi đã trình bày ở trên sự đồng tình ủng hộ của đồng nghiệp để nâng dần hiệu quả giáo dục toàn diện cho học sinh trong thời đại ngày nay.

Đề tài của tôi xin dừng lại tại đây, với nội dung nghiên cứu còn có nhiều hạn chế bởi nhiều lý do khach quan và chủ quan. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự ủng hộ cũng như góp ý của Hội đồng khoa học các cấp cũng như bạn đọc để tôi kịp thời điều chỉnh nội dung nghiên cứu

  1. Kiến nghị
  • Nhà trường cần quan tâm và đầu tư nhiều trang thiết bị phục vụ môn học. Cần tổ chức chuyên đề, hội thảo về môn học này để giáo viên chia sẽ những khó khăn khi dạy môn này về cách sử dụng bản đồ, lược đồ, khai thác tranh ảnh…cũng như kinh nghiệm mà họ đã có khi dạy môn này.

– Khuyến khích giáo viên dạy môn địa lí thi tham gia hội thi, hội giảng…

Trên đây là những suy nghĩ, những việc đã làm đang làm, đang thực hiện trong quá trình công tác, giảng dạy tại trường tôi. Những kết quả gặt hái được chỉ là bước đầu xin được trình bày để đồng nghiệp tham khảo và mong những góp ý chân thành để bản thân hoàn thiện hơn góp phần nhỏ vào phong trào chung trong sự nghiệp giáo dục hiện nay.

 

BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ TẢI FILE WORD

Copyright 2019 © Dạy học online | Thiết kế bởi Web Bách Thắng