Một số lỗi sai thường gặp của giáo viên trong dạy học toán ở tiểu học

Một số lỗi sai thường gặp của giáo viên trong dạy học toán ở tiểu học

  1. PHẦN MỞ ĐẦU

I.1. Lý do chọn đề tài:

Nói đến Toán học là nói đến một môn học quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông. Là môn học cung cấp những kiến thức cơ bản về số học, các yếu tố hình học, đo đại lượng, giải toán và rèn luyện cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất về tính toán, đo lường. Đây có thể coi là một môn học quan trọng trong các môn ở tiểu học, là công cụ để học tập các môn học khác và cũng là điểm tựa về lĩnh vực tính toán, đo lường trong cuộc sống hằng ngày của con người. Bên cạnh đó khả năng giáo dục của môn Toán rất phong phú còn giúp học sinh phát triển tư duy, khả năng suy luận, trau dồi trí nhớ, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, chính xác. Nó còn giúp học sinh phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, kích thích óc tò mò, tự khám phá và rèn luyện một phong cách làm việc khoa học. Yêu cầu đó rất cần thiết cho mọi người, góp phần giáo dục ý chí, đức tính chịu khó, nhẫn nại, cần cù trong học tập, hình thành cho các em nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế.

Thực tế trong thời gian qua, chương trình môn toán nói riêng và các môn học khác nói chung gây quá nhiều áp lực cho học sinh. Nhiều nội dung bị trùng lặp nhàm chán, khả năng vận dụng thực hành không cao. Vậy làm thế nào để giúp các em say mê, yêu thích môn học, biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế thì việc đổi mới phương pháp dạy học, hay thay sách giáo khoa của môn Toán là một trong những chiến lược quan trọng của nền giáo dục nước nhà theo như Kết luận số 51-KL/TW ngày 29 tháng 10 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kết luận “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Nội dung kiến thức của môn toán cũng rất phong phú và đa dạng, mỗi khối lớp đều có một lượng kiến thức khác nhau tương ứng với khả năng tiếp thu của học sinh. Hiện nay có nhiều giải pháp đã và đang được nghiên cứu, áp dụng để góp phần thực hiện mục tiêu trên. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh cũng là một trong những giải pháp được nhiều người quan tâm nhằm đưa các hình thức dạy học mới vào nhà trường.

Nhưng việc dạy toán cho học sinh tiểu học, hình thành cho các em những kiến thức cơ bản và chuẩn xác là một công việc không hề đơn giản. Đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ kiến thức chuẩn, phải thường xuyên đầu tư nghiên cứu bài dạy kỹ lưỡng, chuẩn bị đầy đủ các phương tiện dạy học và phối hợp linh hoạt các phương pháp cũng như hình thức dạy học, đặc biệt là phải nghiên cứu kỹ từng đối tượng học sinh thì mới đem đến hiệu quả cho tiết học. Trong dạy học toán cho học sinh tiểu học, nếu chuẩn bị sơ sài, nghiên cứu bài dạy không chu đáo hoặc chủ quan thì việc dẫn đến sai phạm trong dạy học toán là một yếu tố ắt sẽ xảy ra.

Trước ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề nêu trên thì dạy học toán ở tiểu học thường có những sai phạm gì? Làm thế nào để khắc phục chúng. Đó chính là nội dung của đề tài mà tôi đã chọn để nghiên cứu: “Một số lỗi sai thường gặp của giáo viên trong dạy học toán ở tiểu học và biện pháp khắc phục

I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:

Dựa trên những yêu cầu của nội dung, mục đích nghiên cứu đề tài là tìm hiểu thực trạng về những sai phạm mà người giáo viên thường mắc phải trong việc dạy học toán ở trường tiểu học. Từ đó có căn cứ để đề xuất một số biện pháp có tính khả thi nhằm điều chỉnh khắc phục những sai phạm và từng bước nâng cao chất lượng dạy học toán ở tiểu học.

Nhiệm vụ của đề tài gồm:

– Khảo sát những lỗi sai thường gặp của giáo viên trong dạy học toán.

– Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những sai phạm đó.

– Xây dựng kế hoạch và đề xuất những biện pháp có tính khả thi cao trong việc điều chỉnh những lỗi sai đó cho giáo viên, giúp giáo viên thực hiện tốt mục tiêu là trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng, thái độ qua bài dạy.

I.3. Đối tượng nghiên cứu :

Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

 Chương trình dạy học toán ở tiểu học và những sai phạm mà giáo viên thường mắc phải trong quá trình dạy học Toán ở tiểu học.

I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu :

Do điều kiện thời gian nghiên cứu hạn hẹp nên giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi của trường tiểu học.

I.5.  Phương pháp nghiên cứu :

3.1 Phương pháp khảo sát:

Tôi sử dụng phương pháp này nhằm tiến hành khảo sát các lỗi sai của giáo viên trong dạy học toán ở tiểu học.

3.2 Phương pháp phân tích:

Căn cứ vào số liệu đã được khảo sát và thống kê, kết hợp với luận chứng của đề tài. Tôi tiến hành phân tích các sai phạm đã được thống kê.

3.3 Phương pháp tổng hợp :

Khi đã có những chứng cứ khảo sát từ sách giáo khoa và các tài liệu liên quan, tôi tiến hành tổng hợp và kết luận về nội dung nghiên cứu. Nêu một số biên pháp nhằm nâng cao phương pháp dạy học toán và khắc phục những lỗi sai thường gặp  trong dạy học toán ở trường tiểu học.

Ngoài ra tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp khác phục vụ cho quá trình nghiên cứu.

 

  1. PHẦN NỘI DUNG
  2. 1. Cơ sở lý luận:
  3. a) Vai trò dạy học toán ở bậc tiểu học:

Dạy học giải toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức toán học vào các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú, những vấn đề thường gặp trong đời sống.

Nhờ giải toán, học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người lao động mới. Vì giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác: Xác lập mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái cần tìm, trên cơ sở đó chọn được phép tính thích hợp và trả lời câu hỏi đúng của bài toán.

Dạy học giải toán giúp học sinh tự phát hiện, giải quyết vấn đề, tự nhận xét, so sánh, phân tích, tổng hợp và rút ra quy tắc ở dạng khái quát nhất định.

  1. b) Mục tiêu của môn toán ở tiểu học:

Môn toán ở tiểu học có vai trò đặc biệt quan trọng trong chương trình giảng dạy ở tiểu học. Đây là giai đoạn đầu tiên để hình thành các kiến thức, kỹ năng tính toán cho các em. Do đó việc tổ chức dạy toán ở tiểu học không hề đơn giản. Mà cần phải có một sự nghiên cứu nghiêm túc và chuẩn bị một cách kỹ càng thì mới đạt được mục tiêu mà môn toán đưa ra. Mục tiêu của môn toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh:

– Về kiến thức : Cung cấp những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản.

– Về kỹ năng : Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải các bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống. Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết), cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng.

– Về thái độ : Kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.

II.2. THỰC TRẠNG:

  1. Thuận lợi – Khó khăn:

* Thuận lợi:

Trường tiểu học ……….. hiện nay có tổng số cán bộ giáo viên là 56, trong đó số giáo viên trực tiếp đứng lớp là 47. Nhà trường luôn được Đảng, chính quyền, nhân dân quan tâm và chăm lo cho sự nghiệp giáo dục nên có sự chuyển biến toàn diện cả về số lượng, chất lượng và cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.

Bên cạnh đó, ngay từ khi bắt đầu tiến hành nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự ủng hộ từ phía lãnh đạo nhà trường cũng như một số giáo viên. Ban giám hiệu nhà trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cung cấp những tư liệu cần thiết cũng như bố trí sắp xếp cùng tham gia dự giờ giáo viên nhằm khảo sát thực trạng và đánh giá rút kinh nghiệm. Bên cạnh đó là sự chỉ đạo của Phòng giáo dục, đã triển khai sớm và ban hành kịp thời công văn hướng dẫn viết Sáng kiến kinh nghiệm một cách chi tiết về hình thức và nội dung cũng như những lưu ý hết sức cần thiết.

* Khó Khăn:

Trình độ giáo viên trong đơn vị không đồng đều, có một số giáo viên đã lớn tuổi ít chịu khó trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, trường có nhiều điểm trường, địa bàn rộng, đường sá đi lại khó khăn nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học cũng như quá trình nghiên cứu, khảo sát của bản thân.

  1. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:

Trong chương trình dạy học môn toán ở tiểu học có rất nhiều nội dung mỗi nội dung có một mục tiêu khác nhau nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức về số tự nhiên, phân số, số thập phân,…cụ thể như sau:

* Dạy học các số tự nhiên:

Dạy học số tự nhiên là một trong những nội dung trọng tâm của dạy toán ở tiểu học. Nó có mục tiêu là giúp cho HS:

– Có khái niệm về số tự nhiên, biết đọc,viết và so sánh các số tự nhiên.

– Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trên các số tự nhiên. Nắm được các tính chất của các phép toán, biết tính nhẩm, tính nhanh, tính đúng.

– Tích luỹ được những hiểu biết cần thiết để vận dụng trong đời sống sinh hoạt và học tập của học sinh. Phục vụ cho việc học tập các mạch toán khác

* Dạy học về phân số :

Khi dạy về phân số ở tiểu học cần cung cấp cho học sinh nắm được:

– Khái niệm về phân số, cách đọc, viết phân số.

– Nắm được các tính chất cơ bản của phân số, so sánh phân số.

– Biết đọc, viết hỗn số, chuyển đổi hỗn số sang phân số và ngược lại.

– Biết thực hiện cộng, trừ, nhân, chia phân số. Biết các tính chất của các phép toán cộng và nhân phân số.

* Dạy học các số thập phân:

Khi dạy học các số thập phân, cần cung cấp cho học sinh :

– Nắm được khái niệm về số thập phân là một loại số mới với hình thức ghi tiện lợi của nó. Biết đọc, viết số thập phân so sánh và xếp thứ tự các số thập phân trong dãy số thập phân.

– Biết nắm vững và thực hiện tương đối thành thạo các phép tính đối với số thập phân và dùng chúng để biểu diễn các số đo đại lượng.

       * Dạy học các yếu tố đại số:

Đây là một nội dung khá quan trọng trong môn toán ở tiểu học. Nó có nhiệm vụ:

– Góp phần củng cố và làm phong phú thêm các tài liệu số học, nâng cao mức độ khái quát các kiến thức đã học, từng bước nâng cao trình độ tư duy trừu tượng, năng lực khái quát hoá, gây hứng thú học tập cho học sinh.

– Chuẩn bị cơ sở ban đầu cho việc dạy đại số ở các lớp trên.

– Nội dung các yếu tố đại số ở tiểu học gồm: Biểu thức số, biểu thức chứa chữ, đẳng thức, giải phương trình dạng đơn giản. Bất đẳng thức và bất phương trình đơn giản.

* Dạy các yếu tố hình học:

Dạy các yếu tố hình học ở tiểu học có nhiệm vụ :

– Có được các biểu tượng chính xác về các hình hình học, làm quen với một số đại lượng hình học thông dụng.

– Rèn luyện một số kỹ năng thực hành như nhận dạng hình, sử dụng công cụ để vẽ hình, đo đạc,…

– Hỗ trợ cho học sinh học số học, đo lường và các môn học khác, chuẩn bị các kiến thức cơ bản cho môn hình học ở bậc THCS.

– Rèn luyện và phát triển các phẩm chất tư duy, tích luỹ những hiểu biết cần thiết cho cuộc sống và học tập của các em.

* Dạy học đại lượng và đo đại lượng:

Dạy học đại lượng và đo đại lượng ở tiểu học là một vấn đề khó. Tri thức khoa học về đại lượng và đo đại lượng và tri thức môn học được trình bày ở tiểu học có một khoảng cách. Vì vậy người giáo viên cần nắm vững tri thức khoa học, khai thác quan hệ giữa tri thức khoa học và tri thức môn học. Nhờ vậy mới có thể hiểu đầy đủ tri thức môn học, có phương pháp dạy tốt, đạt hiệu quả cao trong dạy học đại lượng và đo đại lượng ở tiểu học.

Chính vì thế nên giáo viên nếu không xem bài thật kĩ trước khi đến lớp hoặc chủ quan thì những sai sót trong dạy học toán ắt sẽ xẩy ra. Thực tế qua dự giờ thăm lớp của đồng chí đồng nghiệp, bản thân tôi đã rút ra một số lỗi sai thường gặp của GV trong dạy học toán là:

Thứ nhất, sai phạm trong sử dụng mô hình:

       Mô hình là một trong những phương tiện dạy học mang lại hiệu quả nhất trong dạy học toán ở tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp Một. Khi hình thành số tự nhiên hoặc hình thành phép cộng, trừ số tự nhiên thì mô hình được xem là công cụ hàng đầu cho việc hình thành kiến thức mới.

Với những hình ảnh trực quan (do các đồ dùng biểu diễn mang lại) và lời giảng của giáo viên học sinh sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và lĩnh hội kiến thức Toán trừu tượng. Thế nhưng do nhiều lý do khác nhau mà giáo viên thường mắc phải những sai phạm trong quá trình sử dụng mô hình:

– Sử dụng mô hình không hợp lý khi hình thành kiến thức mới (nhầm lẫn giữa mô hình với tranh, ảnh,…).

– Xem nhẹ việc sử dụng mô hình (một số giáo viên cho rằng với môn toán thì chỉ cần thực hiện các thao tác của giáo viên là học sinh hiểu bài, không cần chuẩn bị mô hình).

– Lạm dụng mô hình gây phân tán sự chú ý của học sinh (một số giáo viên làm mô hình quá màu mè, nổi bật, khi sử dụng chiếm nhiều thời gian, gây mất sự tập trung hình thành kiến thức của học sinh).

Thứ hai, sai phạm trong thực hành đo độ dài:

Đối với các lớp từ lớp Hai trở lên, việc dạy thực hành đo độ dài thông thường được sử dụng bằng thước. Nhưng trong dạy thực hành đo độ dài ở lớp 1 thì có thể sử dụng đo bằng gang tay, bước chân, sải tay,… Đây mới là yếu tố giáo viên thường mắc phải những sai lầm đơn giản nhưng lại rất quan trọng.

Chẳng hạn trong bài dạy “Thực hành đo độ dài” ở lớp 1 (trang 98, sách Toán 1) khi gọi một số học sinh thực hành đo chiều rộng cái bảng bằng gang tay, giáo viên thường tập trung vào số lượng gang tay các em đo được để kết luận nội dung. Nhưng quên rằng nếu không giải thích rõ về các yếu tố liên quan đến cơ thể con người (chiều cao, cấu tạo,…) thì khi ở nhà thực hành, học sinh sẽ thực hiện không chính xác, gây ra sự hoang mang về cách đo bằng gang tay hay bước  chân,…

Thứ ba, sai phạm trong dạy luyện tập, ôn tập, thực hành Toán:

Đối với các tiết luyện tập, thực hành hoặc ôn tập của môn toán, nội dung chủ yếu là các bài tập luyện tập những kiến thức đã học trong các tiết học trước. Mục tiêu của các bài luyện tập này là củng cố những kiến thức đã học cho học sinh và rèn luyện kỹ năng làm toán.

Chính vì vậy khi dạy những dạng toán này giáo viên thường mắc phải sai phạm là yêu cầu học sinh phải làm hết tất các bài tập trong sách giáo khoa cũng như trong vở bài tập nên thường gây ra một số bức xúc, chán nản cho học sinh, nhất là những học sinh khá và giỏi hoặc những học sinh trung bình làm quá tải cũng gây ra những bức xúc ảnh hưởng đến tâm sinh lý các em. Bởi trong các bài tập thường có một số dạng giống nhau về yêu cầu, chỉ khác số liệu. Nếu học sinh đã hiểu bài mà cứ phải làm nhiều bài giống nhau thì chắc chắn sẽ chán và gây ồn ào trong lớp học.

Thứ tư, sai phạm khi dạy phép nhân, phép chia:

– Về việc dạy giai đoạn chuẩn bị:

  Trước khi học phép tính mới (phép nhân, phép chia) học sinh đều có giai đoạn chuẩn bị. Đây là cơ sở cho việc hình thành kiến thức mới, cầu nối giữa kiến thức đã học và kiến thức sẽ học. Thế nhưng, khi dạy học các bài học trong giai đoạn này, giáo viên thường không chuẩn bị tốt kiến thức cho học sinh để làm cơ sở vững chắc cho các em học những kiến thức mới tiếp theo. Cụ thể là:

  – Học sinh được học bài “Tổng của nhiều số” trước khi học bài “Phép nhân”. ở đây học sinh được tính tổng các số hạng bằng nhau. Giáo viên phải lưu ý để nhận ra các tổng này đều có các số hạng bằng nhau để giúp học sinh học bài phép nhân, tính kết quả của các phép nhân trong các bảng nhân (nhất là các bảng nhân đầu tiên).

  – Học sinh được học bài “Phép nhân” và các bài về Bảng nhân trước khi học bài “Phép chia” và các bài về Bảng chia. Giáo viên lưu ý học sinh phải thuộc bảng nhân để làm cơ sở học các bảng chia, vì các bảng chia đều được xây dựng từ các bảng nhân tương ứng.

  – Việc nhân chia trong bảng thành thạo cũng là cơ sở để học sinh học tốt nhân, chia ngoài bảng.

– Thực tế cho thấy GV ít sử dụng đồ dùng trực quan trong từng giai đoạn lập bảng nhân, bảng chia. Kỹ thuật chung của nhân, chia trong bảng là: Học sinh thao tác trên các tấm bìa có các chấm tròn. Vì vậy, sử dụng đồ dùng trực quan ở đây là rất quan trọng. Tuy nhiên mức độ trực quan không giống nhau ở mỗi giai đoạn đặc biệt là nhân chia trong bảng đối với HS lớp 3.

Thứ năm, sai phạm trong dạy giải toán có lời văn:

Thông thường trong dạy giải toán có lời văn GV thường dạy cho HS chỉ dựa vào mẫu để giải mà không yêu cầu học sinh phải nắm được những khái niệm cơ bản khi giải toán có lời văn. Phải nắm vững các bước giải toán có lời văn và biết vận dụng kết hợp mẫu, khái niệm với tính sáng tạo.

Chính vì thế khi tiến hành dạy dạng toán này giáo viên thường không chú ý đến việc thiết lập các bước giải cụ thể mà thường cho học sinh đọc đề bài hoặc quan sát tóm tắt rồi tìm ra cách giải, do đó học sinh chỉ biết cách giải trực tiếp bài toán mà không vận dụng được ý đồ của bài toán khi tiếp tục chuyển sang giải dạng toán khác, hoặc những bài toán nâng cao hơn.

       Thứ sáu, sai phạm trong dạy giải toán chuyển động đều:

Toán chuyển động đều là một trong những dạng toán khó nhất ở tiểu học. Nó bao hàm rất nhiều dạng toán: Cộng, trừ, nhân, chia các số tự nhiên, số thập phân  phân số và đổi các đơn vị đo… Chính vì thế khi dạy dạng toán này, giáo viên thường mắc phải sai lầm là không nắm vững các phương pháp giải toán tiểu học như phương pháp sơ đồ đoạn thẳng, phương pháp rút về đơn vị, phương pháp khử, phương pháp thế, v.v…

  Thứ bảy, sai phạm trong dạy các yếu tố hình học:

Trong môn toán ở tiểu học việc dạy các yếu tố hình học được tập trung chủ yếu vào dạy học sinh nhận dạng hình (hình tam giác, hình chữ nhật, hình vuông,…), dạy học vẽ hình, cắt ghép hình và dạy học giải toán có nội dung hình học (tính chu vi, diện tích…).

Nhưng phần lớn giáo viên khi dạy về các yếu tố hình học (nhận dạng, cắt ghép hình) thường mắc những sai lầm là sử dụng vật mẫu, mô hình chưa sát thực với cuộc sống xung quanh học sinh. Đây có thể coi là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho học sinh vận dụng một cách linh hoạt từ liên hệ vật mẫu, mô hình của giáo viên về nhận dạng các hình có trong cuộc sống hằng ngày của các em , giúp các em giải quyết  yêu cầu đặt ra của bài toán.

Thứ tám, sai phạm trong tổ chức trò chơi toán học :

Trò chơi học tập là một loại hình hoạt động vui chơi có nhiều tác dụng trong các giờ học của học sinh Tiều học. Trò chơi học tập tạo ra không khí vui tươi, phấn khởi, sinh động trong giờ học. Nó còn kích thích được trí tưởng tượng, tò mò, ham hiểu biết và tính tích cực của trẻ.

Tổ chức tốt trò chơi học tập không chỉ làm cho các em hứng thú hơn trong học tập mà còn giúp các em tự tin hơn, có được cơ hội tự khẳng định mình và  tự đánh giá nhau trong học tập.

Việc tổ chức trò chơi trong các giờ học toán là vô cùng cần thiết. Nhưng khi tổ chức trò chơi giáo viên thường mắc những sai lầm là biện pháp tổ chức chưa hợp lý (vi phạm thời gian học tập của học sinh).

II.3. GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP:

Một là, Giải pháp trong sử dụng mô hình:

Khi dạy học toán ở tiểu học, người GV cần phải hiểu rõ bản chất của kiến thức, hiểu rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa các phần và các mạch kiến thức. mạch kiến thức số học là trọng tâm, là hạt nhân của môn toán tiểu học.

Ví dụ : khi dạy bài “Số 0” (sách Toán 1, trang 34) ở lớp 1. đây là bài mới hình thành kiến thức nhận dạng chữ số 0 đồng thời tìm hiểu giá trị của số 0 trong toán học. Sách giáo khoa có minh hoạ bằng hai bình nước, một cái vợt và một số con cá cảnh. Nghĩa là khi dạy, nếu giáo viên không chú ý chắc chắn học sinh sẽ nhầm lẫn giữa nhận dạng chữ số “0” và giá trị của chữ số “0”

 Khi hình thành khái niệm số tự nhiên cho học sinh lớp 1, lớp 2, giáo viên nên sử dụng các mô hình đơn giản như que tính, các hình tròn, hình vuông hoặc các đồ dùng, vật dụng gần gũi trong đời sống hàng ngày của trẻ để giúp học sinh hình thành kiến thức (đối với các số trực giác từ 1 đến 5). Nhưng khi dạy các số từ 6 đến 10 thì lại được hình thành theo cách thêm 1 vào số biết trước (VD: 5 thêm 1 là 6…). Số 0 được giới thiệu sau số 9 theo cách có một số đồ vật (mô hình) lần lượt bớt đi mỗi lần một đồ vật cho đến khi không còn đồ vật nào, khi đó ta nói: có không đồ vật, viết là 0… Khi dạy HS hình thành khái niệm số tự nhiên, GV nên cho HS thực hành thao tác với vật thật, mô hình qua thêm-bớt, so sánh để đưa ra kết quả.

Khi hình thành các công thức tính chu vi diện tích các hình ở lớp 3,4,5 giáo viên thường dùng các hình vẽ, các mẫu vật hoặc các mô hình làm phương tiện dạy học. Các phương tiện (đồ dùng) dạy học phải phù hợp với nội dung yêu cầu của các bài học, dễ làm, dễ kiếm, phù hợp với điều kiện cụ thể ở địa phương, phù hợp với điều kiện kinh tế của giáo viên, phụ huynh học sinh và phù hợp với từng giai đoạn nhận thức của trẻ. Ở giai đoạn 1, các phương tiện chủ yếu là các đồ vật thật hoặc hình ảnh của đồ vật thật, gần gũi với cuộc sống của trẻ. Ở giai đoạn 2, các phương tiện trực quan thường ở dạng sơ đồ, mô hình có tính chất tượng trưng, trừu tượng và khái quát hơn.

 Hai là, Giải pháp trong thực hành đo độ dài ở lớp 1:

Giáo viên cần giải thích rõ về các yếu tố liên quan đến cơ thể con người (chiều cao, cấu tạo,…) và có thể qua đó giúp các em củng cố về so sánh dài hơn-ngắn hơn, cao hơn-thấp hơn. Vì thế cách đo bằng gang tay hay bước chân,…chỉ mang tính ước lượng. Khi thực hành đo GV phải giải thích rõ chiều dài của cái bảng là không đổi nhưng số đo các em đưa ra sẽ khác nhau do gang tay hay bước chân … của mỗi người dài, ngắn khác nhau. Vì vậy, để thực hiện đo độ dài chính xác cần phải có đơn vị đo cụ thể mà sau này các em sẽ được học. 

Ba là, Giải pháp trong dạy luyện tập, ôn tập, thực hành Toán:

Nội dung chủ yếu là các bài ôn tập, luyện tập là nhào nặn lại những kiến thức đã học trong thời gian trước. Các bài tập thường là thực hành gián tiếp kiến thức mới học, HS tự phát hiện vấn đề rồi vận dụng lý thuyết đã học để giải quyết vấn đề. Mục tiêu của các dạng luyện tập này là củng cố những kiến thức đã học cho học sinh và rèn luyện kỹ năng làm toán.

Do vậy không nhất thiết phải yêu cầu tất cả HS làm hết các bài tập trong SGK, VBT. Trong 40 phút của tiết học, nên tập trung giúp HS làm và chữa các bài tập rèn luyện các kỹ năng cơ bản, quan trọng nhất, củng cố thật chu đáo các kiến thức đã học theo chuẩn kiến thức và kĩ năng đối với HS trung bình, yếu. Còn đối với HS khá, giỏi ngoài việc làm các bài tập rèn luyện các kỹ năng cơ bản, quan trọng nhất thì cần chuẩn bị một số bài tập có tính nâng cao hoặc đố vui. Chỉ khi nào làm được như vậy mới đáp ứng yêu cầu của HS.

Bốn là, Giải pháp khi dạy phép nhân, phép chia:

– GV cần phải xác định mối liên hệ giữa các mạch kiến thức (cầu nối giữa kiến thức đã học và kiến thức sẽ học).

  – Phải tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan trong từng giai đoạn lập bảng nhân, bảng chia để học sinh nắm được bản chất của vấn đề chứ không phải học vẹt. Kỹ thuật chung của nhân, chia trong bảng là: Học sinh thao tác trên các tấm

bìa có các chấm tròn. Vì vậy, sử dụng đồ dùng trực quan ở đây là rất quan trọng. Tuy nhiên mức độ trực quan không giống nhau ở mỗi giai đoạn:

  – Ở lớp 3 (học kỳ I): học sinh tiếp tục học các bảng nhân, bảng chia 6, 7, 8, 9. Lúc này các em đã có kinh nghiệm sử dụng đồ dùng học tập (các miếng bìa với số chấm tròn như nhau), đã quen và thành thạo với cách xây dựng phép nhân từ những miếng bìa đó. Hơn nữa, lên lớp 3 trình độ nhận thức của học sinh phát triển hơn trước (khi học lớp 2) nên khi hướng dẫn học sinh lập các bảng nhân hoặc bảng chia, giáo viên vẫn yêu cầu học sinh sử dụng các đồ dùng học tập nhưng ở một mức độ nhất định, phải tăng dần mức độ khái quát để kích thích trí tưởng tượng, phát triển tư duy cho học sinh. Chẳng hạn:

  Giáo viên không cùng học sinh lập các phép tính như ở lớp 2 mà chỉ nêu lệnh để học sinh thao tác trên tấm bìa với các chấm tròn để lập 3, 4 phép tính trong bảng, các phép tính còn lại học sinh phải tự lập dựa vào phép đếm thêm hoặc dựa vào các bảng nhân đã học.

  VD: Khi hướng dẫn học sinh tự lập Bảng nhân 6, giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng các tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn để lập các phép tính:

                        6 x 1 = 6

                        6 x 2 = 12

                        6 x 3 = 18

  Sau đó cho học sinh nhận xét để từ 6 x 2 = 12 suy ra được 6 x 3 = 18. Cụ thể là: Với 3 tấm bìa

Học sinh nêu : “6 được lấy 3 lần, ta có 6 x 3”

Mặt khác cũng từ 3 tấm bìa này ta thấy 6 x 3 chính là 6 x 2 + 6

Vậy 6 x 3 = 6 x 2 + 6 = 18

Bằng cách như vậy, học sinh có thể không dùng tấm bìa mà vẫn tự tìm được kết quả của phép tính:

              6 x 4 = 6 x 3 + 6 = 24

              6 x 5 = 6 x 4 + 6 …

Hoặc dựa trên bảng nhân đã học:

              6 x 4 = 4 x 6 = 24

              6 x 5 = 5 x 6 …

  Như vậy, giáo viên cần lưu ý sử dụng đồ dùng trực quan hợp lý, đúng mức để không chỉ giúp học sinh nắm được kiến thức mà còn phát triển tư duy.

Năm là, Giải pháp trong dạy giải toán có lời văn:

Giải toán không phải chỉ dựa vào mẫu để giải mà đòi hỏi phải biết vận dụng các kỹ năng linh hoạt, sáng tạo. Đòi hỏi học sinh phải nắm được những khái niệm cơ bản khi giải toán có lời văn.

Từ những vấn đề trên, ta thấy hoạt động giải toán có lời văn là một hoạt động phức tạp và khó khăn, không đơn giản.

Yêu cầu khi giải dạng toán có lời văn phải nghiên cứu kỹ đề bài (có 2 dạng giải toán đơn và giải toán hợp). Có 2 kiểu bài bài toán cho sẵn và bài toán cho tóm tắt. Để hướng dẫn học sinh vừa giải được bài toán, vừa vận dụng cách giải để tiến hành sang các dạng toán khác thì giáo viên phải thiết lập các bước giải như sau:

* Nghiên cứu đề bài :

-Tìm hiểu bài :

+ Cho học sinh đọc đề bài toán nhiều lần.

+ Xác định yêu cầu của đề bài toán (cái đã cho và cái cần tìm).

-Trình bày số liệu đã tìm được.

Ví dụ :    +Bài toán cho biết gì ?

              +Bài toán hỏi (yêu cầu tìm) gì ?

* Thiết lập các mối quan hệ của bài toán (Phân tích đề toán):

-Học sinh thảo luận, tóm tắt nội dung bài toán.

-Định dạng phép tính và kết quả của phép tính.

* Lập kế hoạch giải bài toán (tìm cách giải quyết bài toán ).

Học sinh thảo luận tìm tòi lời giải cho bài toán.

* Tiến hành giải (trình bày bài giải).

-Sau khi tiến hành thiết lập các mối quan hệ và tiến hành giải toán.

-Có thể chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ thảo luận đặt lời giải và phép tính cho bài toán có lời văn.

-Đưa ra đáp số cho bài toán.

* Kiểm tra kết quả của bài toán.

-Sau khi đưa ra kết quả, học sinh cần phải kiểm tra lại đề bài và kết quả theo dữ kiện đề toán.

-Thay thế kết quả và thử lại theo dữ kiện.

Sáu là, Giải pháp trong dạy giải toán chuyển động đều:

Muốn thực hiện giải toán chuyển động đều cần phải nắm vững các phương pháp giải toán và lập một kế hoạch giải chi tiết:

* Các hoạt động chuẩn bị cho giải toán:

– Trong nhiều trường hợp học sinh cần được rèn luyện làm quen với hoạt động giải toán thông qua hoạt động với nhóm đồ vật, tranh ảnh, hình vẽ.

– Các bài toán liên quan đến các đại lượng là một phần quan trọng trong giải toán tiểu học. Vì thế học sinh cần được rèn luyện kỹ năng thao tác đo đại lượng, tính toán trên các số đo đại lượng.

* Hoạt động làm quen với giải toán:

Trong việc dạy giải toán ở tiểu học, giáo viên cần giải quyết 2 vấn đề sau:

– Làm cho học sinh nắm được các bước cần thiết của quá trình giải toán và rèn luyện kỹ năng thực hiện các bước đó một cách thành thạo, được tiến hành theo 4 bước như đã trình bày ở phần Giải pháp trong dạy giải toán có lời văn.

– Làm cho học sinh nắm được và có kỹ năng vận dụng các phương pháp chung cũng như thủ thuật giải toán vào việc giải các bài toán một cách có hiệu quả.

* Hình thành và rèn kỹ năng giải toán:

Để hình thành năng lực khái quát hoá và kỹ năng giải toán, rèn luyện tư duy sáng tạo trong học tập, cần tiến hành các hoạt động sau:

– Giải các bài toán nâng dần mức độ phức tạp trong mối quan hệ giữa các số đã cho và số phải tìm hoặc điều kiện bài toán.

– Giải bài toán bằng nhiều cách khác nhau.

– Giải các bài toán trong đó phải xét tới nhiều khả năng để chọn một khả năng thoả mãn điều kiện bài toán.

– Lập và biến đổi bài toán bằng cách lập bài toán tương tự; lập bài toán theo tóm tắt hoặc sơ đồ bài toán

Ví dụ :

Dạng 1: Các bài toán có 1 chuyển động tham gia

Tính vận tốc của người đi bộ, biết quãng đường đi dài 10km và người ấy đi trong 2 giờ.

+ Với bài toán này yêu cầu học sinh phải đọc kỹ đề bài (Đọc không phải là đọc to mà đọc để hiểu nội dung bài)

+ GV giúp học sinh phân tích bài toán (Bài toán cho biết gì? Hỏi gì? Muốn tính vận tốc của người đi bộ ta làm thế nào? Cần phải biết mấy đại lượng là những đại lượng nào? Quãng đường biết chưa? Thời gian biết chưa?) rồi yêu cầu học sinh giải.

Bài giải

Vận tốc của người đi bộ là:

10 : 2 = 5 (km/giờ)

                   Đ/s: 5 km/giờ

Dạng 2: Bài toán về hai chuyển động cùng chiều

 Ở dạng toán này, giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành theo 2 bước như đối với học sinh đại trà song một trong 2 đại lượng hoặc cả hai đại lượng chưa biết cần phải đi tìm.

Lúc 6 giờ sáng một xe tải khởi hành từ A với vận tốc 40 km/giờ đi về B. Sau 1 giờ 30 phút một xe du lịch cũng khởi hành từ A với vận tốc 60 km/giờ và đuổi theo xe tải. Hỏi lúc mấy giờ hai xe gặp nhau và gặp chỗ gặp nhau cách A bao nhiêu kilômet?

Với bài toán này, để tìm được thời điểm hai xe gặp nhau và quãng đường từ A đến chỗ gặp nhau dài bao nhiêu trước hết ta cần tìm thời gian xe du lịch chạy để đuổi kịp xe tải.

GV viên phân tích để HS biết và hiểu:

– Muốn hai xe gặp nhau thì xe đi sau (xe du lịch) phải có vận tốc lớn hơn xe đi trước (xe tải).

– Hiệu vận tốc của hai xe chính là khoảng cách giữa hai xe được rút ngắn sau 1 giờ.

– Nếu khoảng cách giữa hai xe là s thì thời gian hai xe gặp nhau (đuổi kịp) chính bằng khoảng cách giữa hai xe chia cho hiệu hai vận tốc.

– Để thực hiện các phép tính về giải toán chuyển động đều ta cần chuyển các số đo (thời gian, quãng đường và vận tốc) về cùng một đơn vị đo.

Như vậy: Bài toán này ta cần chú ý

Quy tắc : Muốn tìm thời gian hai động tử cùng chiều gặp nhau ta lấy khoảng cách chia cho hiệu của hai vận tốc

 A                                                 B                         C                                                                        

   V1                                                     V2

Cách giải – công thức :

t =      s
v1 – v2

                      s  = (v1 – v2 ) x t

                    v1 – v2 = s : t

t =    AB (v1 > v2 )
v1 – v2

 

  Thời gian để hai động tử gặp nhau là :

Lưu ý :

         * s là khoảng cách của hai động tử khi chúng khởi hành cùng một lúc

         * t là thời gian để hai xe gặp nhau (tính từ thời điểm hai xe xuất phát cùng một lúc)

Thời gian đuổi kịp =

 

    Khoảng cách lúc đầu

Hiệu vận tốc

    Khoảng cách lúc đầu = Thời gian đuổi kịp x hiệu vận tốc

Hiệu vận tốc       =

 

     Khoảng cách lúc đầu

Thời gian đuổi kịp

Bài toán được giải cụ thể như sau :

Bài giải:

Đổi 1 giờ 30 phút = 1,5 giờ

                                 Hiệu vận tốc của xe du lịch và xe tải là:

60 – 40 = 20 (km/giờ)

                                 Quãng đường xe tải đi trước xe du lịch là:

40 x 1,5 = 60 (km)

  Thời gian xe du lịch chạy để đuổi kịp xe tải là:

60 : 20 = 3 (giờ)

                                 Hai xe gặp nhau lúc:

6 giờ + 1 giờ 30 phút + 3 giờ = 10 giờ 30 phút

                                 Quãng đường từ A đến chỗ gặp nhau là:

60 x 3 = 180 (km)

                                               Đ/s: 10 giờ 30 phút; 180 km

Dạng 3: Bài toán về hai chuyển động ngược chiều

Hai thành phố A và B cách  nhau 195km. Lúc 6 giờ một người đi xe máy từ A với vận tốc 30 km/giờ về B. Cùng lúc đó một người đi xe máy từ B với vận tốc 35 km/giờ về A. Hỏi lúc mấy giờ hai người gặp nhau và chỗ gặp nhau cách A bao xa?

Như vậy: Bài toán này GV cũng cần tiến hành lập luận tương tự để  HS hiểu và vận dụng quy tắc.

Quy tắc : Muốn tìm thời gian hai chuyển động đều ngược chiều gặp nhau ta lấy khoảng cách chia cho tổng của hai vận tốc.

A                              C                                            B                                                                                   

   V1                                                     V2

          Để thực hiện các phép tính trên các số đo thời gian, ta cần chuyển về cùng một đại lượng thời gian.

Cách giải – công thức :

t =      s
v1 + v2

                      s  = (v1 + v2 ) x t

                                                      v1 + v2 = s : t

t =    AB
v1 + v2

 

Thời gian để hai động tử gặp nhau là :

Lưu ý :

          * s là khoảng cách của hai động tử khi chúng khởi hành cùng một lúc

          * t là thời gian để hai xe gặp nhau (tính từ thời điểm hai xe xuất phát cùng một lúc )

Thời gian gặp nhau =

 

Quãng đường

Tổng vận tốc

               Quãng đường = Tổng vận tốc x thời gian gặp nhau

Tổng vận tốc =

 

     Quãng đường

T      thời gian gặp nhau

Với bài toán hai chuyển động ngược chiều xuất phát không cùng thời điểm thì  giáo viên phân tích giúp học sinh hiểu và tìm được thời gian chuyển động thứ nhất đi trước chuyển động thứ hai và khi chuyển động thứ hai xuất phát thì chuyển động thứ  nhất cách B là bao nhiêu rồi mới tìm thời điểm hai chuyển động  gặp nhau và quãng đường từ A đến chỗ gặp nhau

* Ngoài hai dạng toán trên còn có một số dạng khác như:

– Vật chuyển động trên dòng nước

– Vật chuyển động có chiều dài đáng kể.

Bảy là, giải pháp trong dạy các yếu tố hình học:

Mô hình, vật mẫu là một phương tiện dạy học được mô phỏng từ các hiện tượng, sự vật. Là một thiết bị được làm từ một số chất liệu khác nhau như nhựa, giấy, sắt,… tuỳ theo môn học, bài học mà có các dạng mô hình khác nhau. Nó có tác dụng giúp cho người giáo viên làm dụng cụ trực quan để hình thành kiến thức mới cho học sinh hay thực hành những nội dung đã học. Đồng thời giúp cho học sinh có cách nhìn chuẩn mực, chính xác nhất khi lĩnh hội kiến thức hay rèn luyện các kỹ năng từ phía thầy, cô giáo cung cấp. Đối với môn toán ở tiểu học là một môn học tương đối khó và khô khan, do đó mô hình toán học không chỉ là phương tiện giúp cho học sinh quan sát thực hiện trên mô hình để lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng. Mà nó còn có tác dụng khơi dậy sự hứng thú trong học tập, tạo tinh thần thoải mái vui tươi cho học sinh trong giờ học bởi ở lứa tuổi tiểu học là giai đoạn mới của phát triển tư duy- giai đoạn tư duy cụ thể.

Nhưng thông thường khi dạy về yếu tố hình học giáo viên chưa chú trọng vào việc đầu tư làm vật mẫu, mô hình để minh hoạ cho bài dạy mà chủ yếu sử dụng vào cách vẽ trực tiếp lên bảng hoặc một số hình ảnh mang tính giới thiệu. Do đó học sinh không những nhận dạng hình không chính xác mà còn rất khó vận dụng các hình trong đời sống mà các em thường gặp.

Ví dụ: Để đi đến quy tắc tính diện tích hình thang ở lớp 5 (tiết 90) giáo viên chỉ cần dạy như sau:

Giáo viên chuẩn bị hình thang ABCD – học sinh quan sát (theo hình vẽ).

                    A                                   D

                                                                    M

                      h

B                H                                                   C                                       E

Bằng cách cắt ghép hình để hướng dẫn học sinh tìm ra quy tắc chung.

  1. a) Lấy điểm chính giữa M của cạnh CD hình thang ABCD. Nối AM rồi cắt hình thang ABCD theo đường AM được tam giác ADM.
  2. b) Ghép tam giác ADM vào vị trí ECM ta được tam giác ABE.

Vì diện tích ABCD bằng diện tích của ABE và bằng

       BE x h: 2 = (BC + CE) x h : 2

                               = (BC + AD) x h : 2

Vì CE = AD nên ta có công thức diện tích hình thang = (a + b) x h : 2

Như vậy đối với học sinh tiểu học không cần phải chứng minh chặt chẽ bằng suy diễn logic mà chỉ cần dựa vào quan sát để rút ra kết luận. Do đó đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị các dụng cụ cần thiết và cắt hình trực tiếp trên lớp để hướng dẫn.

Tám là, giải pháp trong tổ chức trò chơi toán học :

* Ví dụ : Trò chơi Ong đi tìm nhuỵ

(Trò chơi có thể áp dụng vào các bảng +, – , x , : ; cụ thể Tiết 61 : 14 trừ đi một số : 14 – 8)

– Thời gian chơi 5-7 phút.

– Mục đích :

+ Củng cố kỹ năng tính nhẩm dạng trừ có nhớ : 14 – 8

+ Rèn tính tập thể

– Chuẩn bị :

+ 2 bông hoa 5 cánh, mỗi bông một màu, trên mỗi cánh hoa ghi các số như sau, mặt sau gắn nam châm.

+ 10 chú Ong trên mình ghi các phép tính, mặt sau có gắn nam châm

+ Phấn màu

– Cách chơi :

+ Chọn 2 đội, mỗi đội 4 em

+ Giáo viên chia bảng làm 2, gắn mỗi bên bảng một bông hoa và 5 chú Ong, ở bên dưới không theo trật tự, đồng thời giới thiệu trò chơi.

Cô có 2 bông hoa trên những cánh hoa là các kết quả của phép tính, còn những chú Ong thì chở các phép tính đi tìm kết quả của mình. Nhưng các chú Ong không biết phải tìm như thế nào, các chú muốn nhờ các con giúp, các con có giúp được không?

– 2 đội xếp thành 2 hàng. Khi nghe hiệu lệnh “bắt đầu” thì lần lượt từng bạn lên nối các phép tính với số thích hợp. Bạn thứ nhất nối xong phép tính đầu tiên, trao phấn cho bạn thứ 2 lên nối, cứ như vậy cho đến khi nối hết  các phép tính. Trong vòng 1 phút, đội nào nối đúng và nhanh hơn là đội chiến thắng.

* Tương tự vứi cách chơi chia theo đội như trên, chúng ta có thể tổ chức cho học sinh chơi trò : “Chạy tiếp sức”

Nhưng so với thời lượng yêu cầu trên nếu giáo viên tổ chức không kỹ lưỡng thì thời gian sẽ chiếm nhiều hơn dự kiến.

  1. 4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:

Qua khảo nghiệm tôi nhận thấy, giáo viên đã biết khắc phục những điểm yếu của mình và vận dụng các giải pháp vào bài giảng đem lại những kết quả hết sức khả quan, điều đó minh chứng cho giá trị thực tiễn của đề tài. Tuy đây không phải là những lỗi sai thường gặp của toàn bộ giáo viên nhưng những giải pháp đó lại có giá trị khi vận dụng vào trong thực tế ở bất kì bài giảng nào có liện quan đến các vấn đề mà đề tài nghiên cứu.

Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:

Số tiết dạy môn Toán của giáo viên Giỏi Khá TB
90 tiết 82 08 0

PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:

III.1. Kết luận:

Qua quá trình giảng dạy của bản thân cùng với việc dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp, tôi đã rút ra được những vấn đề thiết thực trên. Mặc dù đây không phải là vấn đề cấp thiết hay là điều tồn tại chung của cả đội ngũ GV mà chỉ là một số không nhỏ giáo viên thường hay mắc phải. Với lòng tâm huyết của người thầy, bản thân tôi đã dựa vào những kinh nghiệm trong thực tế cũng như những kiến thức được học trong nhà trường, kiến thức về quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy học đã lĩnh hội hội được để viết Sáng kiến kinh nghiệm. Trong nội dung của Sáng kiến tôi đã đề cập đến mục tiêu, yêu cầu của môn toán tiểu học; đánh giá được thực trạng việc dạy học Toán cũng như những thuận lợi, khó khăn tại đơn vị và  rút ra những giải pháp góp phần hạn chế những sai sót đáng tiếc do nguyên nhân khách quan hay chủ quan của GV trong dạy học môn Toán ở tiểu học.

Các phương  pháp dạy học môn toán cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi phương pháp là một ứng dụng để chuyển tải nội dung tới học sinh. Đối với một số môn học khác, việc sử dụng phương pháp dạy học thường đơn giản hơn, có thể chỉ dùng một số ít phương pháp để giảng dạy là đủ. Nhưng đối với môn toán thì lại hoàn toàn khác, là môn học sử dụng nhiều phương pháp nhất, đặc biệt là lớp học có tỷ lệ học sinh không đồng đều về kiến thức thì giáo viên phải sử dụng đồng thời nhiều phương pháp để thực hiện được mục tiêu bài dạy.

Vì vậy muốn cho học sinh đạt được chuẩn kiến thức và kĩ năng cũng như đạt được mục tiêu môn toán đề ra đòi hỏi người giáo viên phải có những định hướng đúng đắn trong chuẩn bị cũng như tổ chức dạy học. Phải nghiên cứu bài dạy kỹ lưỡng, xem xét cụ thể từng đối tượng học sinh để tiến hành bài dạy đạt yêu cầu, tránh những sai phạm không đáng có trong dạy học toán ở tiểu học.

III.2. Kiến nghị:

– Đối với nhà trường, cần trang bị đầy đủ thiết bị dạy học các môn học nói chung và môn Toán nói riêng. Đặc biệt là các phương tiện dạy học hiện đại để học sinh có điều kiện tiếp cận thường xuyên các tiết học có sử dụng phương tiện hiện đại.

– Ban giám hiệu nhà trường phải thường xuyên kiểm tra đôn đốc việc dạy học. Tổ chức các tiết dạy mẫu để giáo viên trao đổi, học hỏi, rút kinh nghiệm.

– Đối với phụ huynh học sinh, cần quan tâm tạo điều kiện để học sinh có đủ sách vở, đồ dùng học tập. Tăng cường mối liên hệ giữa phụ huynh học sinh với thầy cô giáo để có các giải pháp giúp các em học tốt.

– Đối với giáo viên: hơn ai hết mỗi giáo viên phải tự trang bị cho bản thân vốn kiến thức cần thiết, phải thật sự tận tâm với nghề nghiệp, thường xuyên trau dồi kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, nghiên cứu bài dạy… Có như thế thì các tiết dạy mới mang lại hiệu quả cao.

Đề tài :“Một số lỗi sai thường gặp của giáo viên trong dạy học toán ở tiểu học và biện pháp khắc phục” là một đề tài nếu chỉ riêng một mình tôi thì không thể hoàn thành được mà cần có sự hướng dẫn chỉ đạo của các cấp lãnh đạo và sự giúp đỡ của các anh chị em đồng nghiệp cùng với quá trình nghiên cứu thu thập, đúc rút từ kinh nghiệm thực tế. Tuy vậy với kiến thức hạn chế, kinh nghiệm chưa cao nên không thể tránh khỏi những sai sót trong quá trình thực hiện. Rất mong được sự góp ý chân thành của Hội đồng khoa học giáo dục cùng các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn và không chỉ được áp dụng tại trường Tiểu học ……….. mà sớm được áp dụng rộng rãi tại các trường tiểu học trong toàn huyện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Sách giáo khoa môn Toán lớp 1, 2. 3, 4 5 – Nhà xuất bản giáo dục 2011
  2. Sách giáo viên môn Toán lớp 1, 2. 3, 4 5 – Nhà xuất bản giáo dục 2011
  3. GS.TS Đào Tam, Phạm Thanh Thông, Hoàng Bá Thịnh – Thực hành phương pháp dạy học toán ở tiểu học – Nhà xuất bản Đà Nẵng 2006.
  4. Giáo trình phương pháp dạy học môn toán ở tiểu học tác giả : Đỗ Trung Hiệu – Đỗ Đình Hoan – Vũ Dương Thuỵ – Vũ Quốc Chung .
  5. Vụ giáo dục tiểu học – Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học lớp 5 nhà xuất bản giáo dục 2006
  6. Chuyên đề Giáo dục tiểu học – Vụ giáo dục tiểu học – Nhà xuất bản giáo dục.
  7. Các thông tin trên kênh phương tiện thông tin đại chúng.

 

 

Copyright 2019 © Kinh nghiệm dạy học | Thiết kế bởi Web Bách Thắng